Đề bài: Theo Đức Gioan Phaolô II, hòa bình đích thực
là ‘’công trình của công lý’’. Đồng quan điểm đó, Đức Gioan XXIII nói: ‘’Chúng
ta hãy đưa tay cho anh chị em chúng ta để khuyến khích họ xây dựng hòa bình
trên bốn trụ cột là sự thật, công lý, tình thương và tự do.’’
Bạn hãy làm rõ hòa bình đích thực trong bối cảnh thế giới
hôm nay.
Aug Đặng Phụng
(14/3/2023)
Bài làm
Đại văn hào Victor Hugo đã từng nói ‘’Hòa bình là đức hạnh của nhân loại’’. Quả vậy, hòa bình luôn là khao khát và mong mỏi của tất cả mọi người trên thế giới. Nhưng cuộc sống con người lại thường tồn tại hai mảng đối lập: người giàu có, kẻ nghèo đói, người hạnh phúc kẻ khổ đau, người sống trong hòa bình, kẻ chìm trong khói lửa chiến tranh… Giữa cảnh tranh sáng tranh tối đó của thế giới ngày nay, khao khát cuộc sống hòa bình còn mãnh liệt hơn nữa. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã từng khẳng định: hòa bình đích thực là công trình của công lý, trước đó Thánh Gioan XXIII cũng đã mời gọi chúng ta cùng xây dựng hòa bình trên bốn trụ cột là sự thật, công lý, tình thương và tự do. Vậy, giữa bối cảnh thế giới ngày nay, hòa bình đích thực là gì?
Thật vậy, nền
tảng Thánh Kinh cho chúng ta thấy, Thiên Chúa là nguồn khởi phát của hòa bình
đích thực. Ngay từ buổi sơ khai, Thiên Chúa đã sáng tạo con người theo hình ảnh
của Ngài (x. St 1,27) để cho con người được hưởng cuộc sống hạnh phúc, cùng
chia sẻ niềm vui với Ngài. Minh chứng là Adam và Eva đã được Thiên Chúa cho hưởng
bình an trong vườn địa đàng, được làm chủ mọi sinh vật Ngài tạo thành. Thế
nhưng, con người đầu tiên đã bất tuân lệnh Thiên Chúa và tội lỗi bắt đầu xâm nhập
vào thế gian. Sự việc Cain giết em mình là Aben (x. St 4,8) như là một hệ quả tất
yếu của tội lỗi, kéo theo đó là hàng loạt tội ác mà con người gây ra cho nhau,
làm đảo lộn trật tự sáng tạo tốt đẹp của Thiên Chúa. Nền hòa bình ban sơ đã thật
sự bị đánh mất bởi sự ác do con người gây ra. Tuy nhiên, Thiên Chúa Hòa Bình đã
không muốn để cho con người sống bất an trong tội lỗi, Ngài đã chọn một dân
riêng là dân Itraen để tiếp tục thực hiện giao ước hòa bình của Ngài. Dù ‘’núi
có dời có đổi, đồi có chuyển có lay, tình nghĩa của Ta đối với ngươi vẫn không
thay đổi, giao ước hòa bình của Ta cũng chẳng chuyển lay’’ (Is 54,10). Lịch
sử thánh cho chúng ta thấy cuộc sống con người vẫn chìm trong cảnh chiến tranh,
xung đột, bất hòa bởi sự lạm dụng tự do của con người gây ra. Chỉ khi con người
đặt niềm tin tưởng vào Lời Chúa, họ mới được hưởng sự hòa bình. Thiên Chúa đã
ký kết một giao ước hòa bình với con người qua việc Ngài đã ban chính Con Một của
mình là Đức Kitô để nhờ Đức Kitô, con người tìm đến được nguồn mạch của hòa
bình đích thực. Đức Kitô chính là ‘’thủ lãnh Hòa Bình’’ (Is 9,5) được
tiên báo. Ngài đã xuống thế làm người để đem hòa bình xuống cho toàn nhân loại
đang chìm ngập trong sự bất an.
Quả vậy, nhân
loại đã nếm đủ sự khốc liệt của hận thù, chiến tranh qua những cuộc đại chiến
trong lịch sử. Gần đây nhất là hai cuộc chiến tranh thế giới
(1914-1918;1939-1945) cũng như rất nhiều những xung đột lớn nhỏ khác đã và đang
xảy ra trên khắp thế giới. Hậu quả thảm khốc của các cuộc chiến không con số
nào có thể đong đếm được. Sự kiện hai quả bom nguyên tử được thả xuống Nagasaki
và Hirosima năm 1945 là một minh chứng cho những thương tổn mà chiến tranh gây
ra. Bối cảnh thế giới hiện nay cũng đang đặt ra cho chúng ta những dấu hỏi lớn:
chiến tranh Nga – Ukraina đã diễn ra hơn một năm bất chấp những nỗ lực hòa giải
của các cá nhân, tổ chức; các tổ chức khủng bố vẫn đang hoạt động; sự đua tranh
các loại vũ khí hạt nhân và đặc biệt là vũ khí sinh hóa đang đe dọa nghiêm trọng
đến sự sống của nhân loại trên trái đất. Trong các mối tương giao con người
cũng tồn tại những cuộc chiến không khói súng là bất hòa, hận thù, chia rẽ, giả
dối,… làm cho con người sống trong tình trạng thiếu vắng sự bình an đích thực.
Chính trong bối cảnh như vậy, con người mới nhận ra hòa bình của họ không nằm
trong các thực tại trần thế nhưng trong chính Đức Giêsu Ki tô – Hoàng Tử Hòa
Bình.
Đức Kitô có
thực sự là Thủ Lãnh Hòa Bình đã được ngôn sứ Isaia tiên báo? Bởi lẽ, cụ già
Simeon đã nói Đức Kitô sẽ khiến cho nhiều người trong Israel phải sụp đổ (x. Lc
2,35) và chính Đức Kitô sau này cũng nói với các môn đệ Ngài không đến để ban
hòa bình nhưng là để chia rẽ (x. Lc 12,51-53). Thực ra, sự hòa bình mà Đức Kitô
mang đến không như con người nghĩ, hòa bình mà Ngài thiết lập không theo kiểu
thế gian (x. Ga 14,27). Quả vậy, suốt hành trình dương thế, Đức Kitô đã giảng dạy
một giáo lý mới về tình yêu và sự tha thứ, chính Ngài đã thực hiện một cuộc
cách mạng cho não trạng mang nặng tính luật lệ, hình thức cho dân Do Thái thời
bấy giờ. Đức Kitô đã đến để giao hòa nhân loại với Chúa Cha, Ngài đã đến để phá
hủy bức tường ngăn cách giữa Do Thái và các dân tộc khác, đồng thời lấy giới
răn yêu thương như là giải pháp căn bản để thiết lập hòa bình. Ngài kêu gọi con
người nhận trách nhiệm của mình đối với anh em, để xây dựng một cuộc sống huynh
đệ, nhân ái yêu thương. Ngài đã mời gọi chúng ta ‘’yêu kẻ thù và cầu nguyện
cho những kẻ ngược đãi’’ mình (Mt 5,44). Thế nhưng, hòa bình đích thực chỉ
đạt đến viên mãn nhất bằng cuộc khổ nạn và cái chết của Đức Kitô. Qua cái chết
của Ngài, kết ước hòa bình giữa nhân loại với Thiên Chúa được thiết lập, mối
dây hiệp thông giữa con người với Thiên Chúa và giữa con người với nhau được nối
lại. Kể từ đây tín nghĩa ân tình hội ngộ, hòa bình công lý giao duyên (x. Tv
85,11).
Đức Kitô đã thiết lập hòa bình
cho con người qua mầu nhiệm thập giá. Tuy nhiên, con người vốn mang bản chất yếu
đuối, tội lỗi vẫn tồn tại, chiến tranh, bất hòa, chia rẽ vẫn diễn ra. Vì thế,
công cuộc xây dựng hòa bình vẫn còn phải được tiếp tục cho đến ngày giao ước được
hoàn tất.
Hòa bình cần được xây dựng dựa
trên những nền tảng căn bản là công bình, bác ái, chân lý và tự do. Thánh Giáo
hoàng Gioan Phaolo II cũng đã khẳng định hòa bình đích thực là ‘’công trình
của công lý’’. Thật vậy, công lý là nền tảng căn bản để xây dựng một nền
hòa bình đích thực. Nhân loại cần đến công lý để đảm bảo cho một xã hội công bằng.
Mọi người đều được hưởng các quyền lợi căn bản và thực hiện các nghĩa vụ của
mình để cùng xây dựng cuộc sống. Công lý được thể hiện qua việc pháp luật được
thượng tôn. Pháp luật là công cụ mà nhà cầm quyền sử dụng để duy trì trật tự của
quốc gia. Trong một quốc gia tôn trọng pháp luật, người dân sẽ được đảm bảo hưởng
các quyền lợi và thực hiện các nghĩa vụ một cách đầy đủ. Cuộc sống con người sẽ
được ổn định hơn khi mỗi người biết tôn trọng pháp luật, các quốc gia và dân tộc
trên thế giới biết tôn trọng luật lệ chung và tôn trọng luật pháp quốc tế trong
các vấn đề tranh chấp. Thế nhưng, chỉ với công lý thì chưa thể thỏa mãn được
khao khát hòa bình của con người. Thật vậy, xã hội chỉ có công lý mà thiếu vắng
tình thương là một xã hội chứa đầy sự lãnh cảm. Tình thương không phải là đối
trọng của công lý nhưng đảm bảo cho công lý phát huy được bản chất thật sự của
nó. Tình thương là biểu hiện của một xã hội hòa bình, tình thương giúp hóa giải
hận thù, chia rẽ và xung đột. Có tình thương sẽ có sự tha thứ, điều vốn không
được thể hiện trong một xã hội chỉ có công lý. Tha thứ chính là ngôn ngữ của
tình thương. Sự tha thứ không thay đổi được quá khứ, nhưng có thể mở rộng
tương lai (Paul Boese). Như vậy, công lý và tình thương chính là những
viên gạch sống động xây dựng nền hòa bình đích thực cho con người hôm nay.
Bên cạnh công
lý và tình thương, hòa bình cũng được kiến tạo bởi sự thật. Hòa bình không có sự
thật thì chỉ là hòa bình giả tạo. Đức Kitô đã đến để diệt trừ sự dối trá, là mầm
mống làm cho con người băng hoại và gây mâu thuẫn trong các mối tương quan ở mọi
lĩnh vực, chính Ngài đã khẳng định ‘’Sự thật sẽ giải thoát anh em’’ (Ga
8,32), sự thật sẽ giải phóng chúng ta khỏi không cùm của dối trá, vốn là thứ
kìm kẹp chúng ta trong một cuộc sống giả tạo. Chỉ khi sống trong sự thật, con
người mới trở nên là người hơn. Sự thật giúp con người hướng đến chân lý đích
thực của cuộc sống. Khao khát sống trong sự thật là một khao khát chính đáng của
con người. Tuy nhiên, giữa một xã hội mà sự giả tạo lên ngôi, nhiều người vẫn
truyền tai nhau rằng ‘’thật thà thua thiệt’’ và rằng sống giả tạo mới là
khôn ngoan. Những tư tưởng đó xem ra thật đáng báo động, nó làm cho cuộc sống
con người tồn tại sự nhập nhằng thật thật, giả giả. Con người sẽ không còn phân
biệt được đâu là sự thật và đâu là giả dối. Chỉ có sự thật mới đưa đến sự bình an
cho con người và kiến tạo hòa bình cho xã hội. Nhưng sự thật còn phải được song
hành cùng tình thương. Sự thật không có tình thương đôi khi gây ra những thương
tổn đáng tiếc. Sự thật phải được nói một cách chân thành bằng trái tim mới mang
lại hoa trái thực sự cho con người. Những hình thức về bức cung, nhục hình để
mong tìm ra sự thật là những hành vi đi ngược lại với tình thương, không đảm bảo
sự tôn trọng nhân phẩm của các nhân vị.
‘’Hỡi người
Kitô hữu, hãy ý thức phẩm giá của mình’’, lời của thánh Lêô Cả như muốn kêu
gọi tất cả mọi người cùng biết ý thức về phẩm giá của mình, đồng thời cũng kêu
gọi chúng ta tôn trọng phẩm giá của người khác. Quả vậy, hòa bình đích thực
cũng cần phải có sự tôn trọng phẩm giá của con người. Con người là hình ảnh của
Thiên Chúa, được chính Ngài ban cho phẩm giá cao quý mà không thụ tạo nào được
hưởng. Chính vì thế, việc tôn trọng phẩm giá của con người chính là tôn trọng
trật tự sáng tạo của Thiên Chúa. Đáng tiếc rằng, trong xã hội ngày nay, nhân phẩm
con người đang bị xem nhẹ một cách đáng báo động. Những hình thức bạo hành, ngược
đãi về tinh thần và thể xác vẫn luôn là vấn đề nan giải của xã hội con người. Rất
nhiều người đã và đang làm giàu trên chính nhân phẩm của đồng loại ngang qua việc
sản xuất và lưu truyền những văn hóa phẩm đồi trụy, bạo lực,… . Chỉ khi nhân phẩm
con người được tôn trọng, con người mới thật sự có một nền hòa bình đích thực.
Việc tôn trọng phẩm giá con người
cũng chính là tôn trọng quyền tự do. Bản tuyên ngôn quốc tế Nhân quyền năm 1948
đã khẳng định ‘’Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về phẩm giá và
quyền lợi’’. Thật vậy, con người được Thiên Chúa dựng nên có ý chí tự do.
Chính Ngài là Đấng dựng nên con người, là chủ của con người, đã ban cho họ tự
do vậy chẳng có lý do gì con người lại bị tước đoạt điều đó. Một đất nước đảm bảo
tự do cho con người là một đất nước phát triển thịnh vượng. Lịch sử nhân loại
đã minh chứng cho điều đó một cách rõ ràng. Chỉ khi được đảm bảo tự do, con người
mới có thể phát triển một cách toàn diện hơn, mỗi công dân trong một đất nước mới
có thể phát huy những năng lực vốn có của mình để xây dựng đất nước. Việc đảm bảo
tự do cho con người là một nhiệm vụ tối cần thiết của các nhà cầm quyền. Tuy
nhiên, nhiều người vẫn luôn lầm tưởng tự do là được làm những gì mình muốn. Tự
do không đơn thuần chỉ có vậy nhưng hơn hết tự do đích thực là khả năng tự quyết
định, hướng cuộc đời mình về nguồn hạnh phúc đích thực là Thiên Chúa.
Như vậy, hòa bình chỉ thực sự được
thể hiện khi được đặt trên sự thật, được xây dựng trên công lý, được linh hoạt
bởi tình yêu và được hoàn thiện trong tự do (x. Pacem in Terris). Cùng với đó
là sự tôn trọng nhân phẩm của con người, là điều kiện tối cần thiết để kiến tạo
hòa bình đích thực trong một khuôn mẫu duy nhất là Đức Kitô.
Với tư cách là Hiền Thê của Hoàng
Tử Hòa Bình, Giáo Hội cũng đã và đang tìm mọi phương thế để góp phần xây dựng
hòa bình. Qua các Giáo huấn, Giáo Hội luôn mạnh mẽ lên án chiến tranh và kêu mời
mọi Kitô hữu kiến tạo hòa bình bằng nhiều phương thế. Thế giới đã phải đối diện
với nhiều cuộc chiến tranh xảy ra hơn nếu không có sự can thiệp của Giáo hội mà
đại diện là các Đức giáo hoàng. Các Ngài đã hòa giải thành công nhiều cuộc xung
đột và chiến tranh. Thánh giáo hoàng Gioan XXIII lên ngôi trong thời kì chiến
tranh lạnh đã tha thiết kêu gọi hai cường quốc Hoa Kỳ - Liên Xô trước nguy cơ
khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962. Ngài đã âu sầu đọc lên thông điệp kêu gọi
hòa bình cho toàn thế giới vào tháng 11 năm 1962. Sau đó một thời gian, thông
điệp Pacem In Terris (1963) đã được gửi đến những người thành tâm thiện chí xây
dựng hòa bình. Tiếp nối vị tiền nhiệm, Đức Phaolo VI cũng luôn tha thiết mời gọi
nhân loại kiến tạo hòa bình qua việc đối thoại. Ngài đã thiết lập ngày thế giới
hòa bình vào năm 1968 để mời gọi mọi người cầu nguyện cho hòa. Kể từ đó, những
sứ điệp hòa bình đã được gửi đến cho tất cả mọi người để như một lời nhắc nhớ về
sự tối cần thiết của hòa bình cho nhân loại. Tiếp theo các ngài là Đức Gioan
Phaolo II, người đã để lại hình ảnh đẹp cho thế giới về sự tha thứ cho kẻ ám mình.
Cũng như Đức Benedictô XVI hay hiện tại là Đức Phanxicô, các ngài luôn là những
sứ giả hòa bình của con người thời đại hôm nay.
Noi gương Đức Maria – Nữ Vương
Hòa Bình, chúng ta học nơi Mẹ những đức tính cần thiết để xây đắp hòa bình. Cuộc
đời của Mẹ đã chứng kiến những bất công, những hận thù, những xung đột mà đỉnh
điểm là cuộc khổ nạn và chịu chết trên thập giá của Đức Giêsu, con Mẹ. Mẹ đã
không một lời oán thán nhưng một lòng phó thác cho Thiên Chúa tất cả mọi sự. Mẹ
cũng đã nhiều lần hiện ra để nhắc nhớ con cái của Mẹ ăn năn sám hối và làm việc
đền tội để kiến tạo hòa bình cho thế giới ngày nay. Chính Mẹ là mẫu gương sáng
ngời cho việc xây dựng hòa bình đích thực.
Người Kitô hữu là những người bước
theo Đức Kitô, chúng ta được mời gọi góp phần xây dựng hòa bình đích thực bằng
cuộc sống hằng ngày. Để có một nền hòa bình đích thực, chúng ta cần có một đời
sống thiết thân với Chúa. Qua việc cầu nguyện, chúng ta học biết đối thoại để từ
đó chúng ta có thể đối thoại được với anh chị em. Chúng ta cũng học xây dựng
hòa bình đích thức ngay trong tâm hồn của mình, chỉ khi tâm hồn bình an chúng
ta mới có thể lan tỏa hòa bình đến cho anh chị em của mình. Bằng thái độ sống
yêu thương, tha thứ và chân thành, người Kitô hữu góp phần kiến tạo hòa bình
đích thức cho xã hội.
Giữa một xã hội
đang có nhiều biến động, chúng ta cần tìm về nguồn bình an viên mãn là Thiên
Chúa. Chúng ta cũng được mời gọi noi theo Đức Kitô là mô mẫu của hòa bình đích
thực cho con người trong mọi thời đại. Hòa bình đích thực chính là khi công lý,
tình thương, sự thật và tự do được tôn trọng và kiến tạo. Cùng với đó là sự tôn
trọng phẩm giá và quyền của con người trong xã hội. Giáo Hội với tư cách là Hiền
Thê của Đức Kitô cũng luôn nỗ lực xây dựng và mời gọi nhân loại xây dựng hóa
bình qua các Giáo Huấn xuyên suốt và qua những hành động thiết thực trên phạm
vi toàn cầu. Mỗi người Kitô hữu cần ý thức về những tội lỗi mình gây ra, chiến
tranh và hận thù vẫn luôn là vấn đề thường trực. Nhưng tin tưởng rằng, với đức
mến, chúng ta có thể vượt thắng được tội lỗi, bạo lực sẽ được loại trừ cho đến
khi lời sau đây được hoàn thành: ‘’họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày,
rèn giáo mác nên liềm nên hái. Dân này nước nọ sẽ không còn vung kiếm đánh nhau
và thiên hạ thôi học nghề chinh chiến’’ (Is 2,4).
0 Nhận xét