Đề bài: Theo Đức Gioan Phaolô II, hòa bình đích thực là ‘’công trình của công lý’’. Đồng quan điểm đó, Đức Gioan XXIII nói: ‘’Chúng ta hãy đưa tay cho anh chị em chúng ta để khuyến khích họ xây dựng hòa bình trên bốn trụ cột là sự thật, công lý, tình thương và tự do.’’

Bạn hãy làm rõ hòa bình đích thực trong bối cảnh thế giới hôm nay.

Aug Đặng Phụng (14/3/2023)

Bài làm

          Đại văn hào Victor Hugo đã từng nói ‘’Hòa bình là đức hạnh của nhân loại’’. Quả vậy, hòa bình luôn là khao khát và mong mỏi của tất cả mọi người trên thế giới. Nhưng cuộc sống con người lại thường tồn tại hai mảng đối lập: người giàu có, kẻ nghèo đói, người hạnh phúc kẻ khổ đau, người sống trong hòa bình, kẻ chìm trong khói lửa chiến tranh… Giữa cảnh tranh sáng tranh tối đó của thế giới ngày nay, khao khát cuộc sống hòa bình còn mãnh liệt hơn nữa. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã từng khẳng định: hòa bình đích thực là công trình của công lý, trước đó Thánh Gioan XXIII cũng đã mời gọi chúng ta cùng xây dựng hòa bình trên bốn trụ cột là sự thật, công lý, tình thương và tự do. Vậy, giữa bối cảnh thế giới ngày nay, hòa bình đích thực là gì?

Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII (1958-1963) và thánh giáo hoàng Gioan Phaolo II (1978-2005) đều là những vị giáo hoàng đóng góp quan trọng trong công cuộc xây dựng hòa bình của toàn nhân loại. Triều đại của các ngài đều chứng kiến những sự bất ổn của tình hình thế giới, sự bất hòa trên nhiều bình diện của xã hội và sự bất an của lòng người. Vì lẽ đó, các ngài luôn kêu gọi cộng đồng thế giới cùng nhau kiến tạo một nền hòa bình đích thực. Vậy ‘’hòa bình’’ là gì? Một cách thông thường, ‘’hòa bình’’ được định nghĩa là tình trạng không có chiến tranh hay xung đột vũ trang, là mối quan hệ hiểu biết, tôn trọng, bình đẳng và hợp pháp giữa các quốc gia - dân tộc, giữa người với người và là khát vọng của toàn nhân loại. Dưới nhãn quan Kitô giáo, Từ Điển Công Giáo định nghĩa‘’hòa bình’’ là sự an lạc con người được hưởng khi sống tốt tương quan với Thiên Chúa, với tha nhân, với chính mình và với thiên nhiên (x. Từ Điển Công Giáo tr.84). Giáo lý Hội Thánh Công Giáo khẳng định hòa bình là sự ổn định của trật tự, là sự nghiệp của đức công minhlà hiệu quả của đức mến (x.GLHTCG 2304). Như vậy, hòa bình không đơn thuần chỉ là không có chiến tranh hay xung đột nhưng hơn hết đó là cuộc sống có sự hài hòa trong các mối tương quan, đặc biệt là tương quan với Thiên Chúa bởi hòa bình chính là quà tặng mà Thiên Chúa ban cho những ai đặt niềm tin vào Ngài.

          Thật vậy, nền tảng Thánh Kinh cho chúng ta thấy, Thiên Chúa là nguồn khởi phát của hòa bình đích thực. Ngay từ buổi sơ khai, Thiên Chúa đã sáng tạo con người theo hình ảnh của Ngài (x. St 1,27) để cho con người được hưởng cuộc sống hạnh phúc, cùng chia sẻ niềm vui với Ngài. Minh chứng là Adam và Eva đã được Thiên Chúa cho hưởng bình an trong vườn địa đàng, được làm chủ mọi sinh vật Ngài tạo thành. Thế nhưng, con người đầu tiên đã bất tuân lệnh Thiên Chúa và tội lỗi bắt đầu xâm nhập vào thế gian. Sự việc Cain giết em mình là Aben (x. St 4,8) như là một hệ quả tất yếu của tội lỗi, kéo theo đó là hàng loạt tội ác mà con người gây ra cho nhau, làm đảo lộn trật tự sáng tạo tốt đẹp của Thiên Chúa. Nền hòa bình ban sơ đã thật sự bị đánh mất bởi sự ác do con người gây ra. Tuy nhiên, Thiên Chúa Hòa Bình đã không muốn để cho con người sống bất an trong tội lỗi, Ngài đã chọn một dân riêng là dân Itraen để tiếp tục thực hiện giao ước hòa bình của Ngài. Dù ‘’núi có dời có đổi, đồi có chuyển có lay, tình nghĩa của Ta đối với ngươi vẫn không thay đổi, giao ước hòa bình của Ta cũng chẳng chuyển lay’’ (Is 54,10). Lịch sử thánh cho chúng ta thấy cuộc sống con người vẫn chìm trong cảnh chiến tranh, xung đột, bất hòa bởi sự lạm dụng tự do của con người gây ra. Chỉ khi con người đặt niềm tin tưởng vào Lời Chúa, họ mới được hưởng sự hòa bình. Thiên Chúa đã ký kết một giao ước hòa bình với con người qua việc Ngài đã ban chính Con Một của mình là Đức Kitô để nhờ Đức Kitô, con người tìm đến được nguồn mạch của hòa bình đích thực. Đức Kitô chính là ‘’thủ lãnh Hòa Bình’’ (Is 9,5) được tiên báo. Ngài đã xuống thế làm người để đem hòa bình xuống cho toàn nhân loại đang chìm ngập trong sự bất an.

          Quả vậy, nhân loại đã nếm đủ sự khốc liệt của hận thù, chiến tranh qua những cuộc đại chiến trong lịch sử. Gần đây nhất là hai cuộc chiến tranh thế giới (1914-1918;1939-1945) cũng như rất nhiều những xung đột lớn nhỏ khác đã và đang xảy ra trên khắp thế giới. Hậu quả thảm khốc của các cuộc chiến không con số nào có thể đong đếm được. Sự kiện hai quả bom nguyên tử được thả xuống Nagasaki và Hirosima năm 1945 là một minh chứng cho những thương tổn mà chiến tranh gây ra. Bối cảnh thế giới hiện nay cũng đang đặt ra cho chúng ta những dấu hỏi lớn: chiến tranh Nga – Ukraina đã diễn ra hơn một năm bất chấp những nỗ lực hòa giải của các cá nhân, tổ chức; các tổ chức khủng bố vẫn đang hoạt động; sự đua tranh các loại vũ khí hạt nhân và đặc biệt là vũ khí sinh hóa đang đe dọa nghiêm trọng đến sự sống của nhân loại trên trái đất. Trong các mối tương giao con người cũng tồn tại những cuộc chiến không khói súng là bất hòa, hận thù, chia rẽ, giả dối,… làm cho con người sống trong tình trạng thiếu vắng sự bình an đích thực. Chính trong bối cảnh như vậy, con người mới nhận ra hòa bình của họ không nằm trong các thực tại trần thế nhưng trong chính Đức Giêsu Ki tô – Hoàng Tử Hòa Bình.

          Đức Kitô có thực sự là Thủ Lãnh Hòa Bình đã được ngôn sứ Isaia tiên báo? Bởi lẽ, cụ già Simeon đã nói Đức Kitô sẽ khiến cho nhiều người trong Israel phải sụp đổ (x. Lc 2,35) và chính Đức Kitô sau này cũng nói với các môn đệ Ngài không đến để ban hòa bình nhưng là để chia rẽ (x. Lc 12,51-53). Thực ra, sự hòa bình mà Đức Kitô mang đến không như con người nghĩ, hòa bình mà Ngài thiết lập không theo kiểu thế gian (x. Ga 14,27). Quả vậy, suốt hành trình dương thế, Đức Kitô đã giảng dạy một giáo lý mới về tình yêu và sự tha thứ, chính Ngài đã thực hiện một cuộc cách mạng cho não trạng mang nặng tính luật lệ, hình thức cho dân Do Thái thời bấy giờ. Đức Kitô đã đến để giao hòa nhân loại với Chúa Cha, Ngài đã đến để phá hủy bức tường ngăn cách giữa Do Thái và các dân tộc khác, đồng thời lấy giới răn yêu thương như là giải pháp căn bản để thiết lập hòa bình. Ngài kêu gọi con người nhận trách nhiệm của mình đối với anh em, để xây dựng một cuộc sống huynh đệ, nhân ái yêu thương. Ngài đã mời gọi chúng ta ‘’yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi’’ mình (Mt 5,44). Thế nhưng, hòa bình đích thực chỉ đạt đến viên mãn nhất bằng cuộc khổ nạn và cái chết của Đức Kitô. Qua cái chết của Ngài, kết ước hòa bình giữa nhân loại với Thiên Chúa được thiết lập, mối dây hiệp thông giữa con người với Thiên Chúa và giữa con người với nhau được nối lại. Kể từ đây tín nghĩa ân tình hội ngộ, hòa bình công lý giao duyên (x. Tv 85,11).

Đức Kitô đã thiết lập hòa bình cho con người qua mầu nhiệm thập giá. Tuy nhiên, con người vốn mang bản chất yếu đuối, tội lỗi vẫn tồn tại, chiến tranh, bất hòa, chia rẽ vẫn diễn ra. Vì thế, công cuộc xây dựng hòa bình vẫn còn phải được tiếp tục cho đến ngày giao ước được hoàn tất.

Hòa bình cần được xây dựng dựa trên những nền tảng căn bản là công bình, bác ái, chân lý và tự do. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolo II cũng đã khẳng định hòa bình đích thực là ‘’công trình của công lý’’. Thật vậy, công lý là nền tảng căn bản để xây dựng một nền hòa bình đích thực. Nhân loại cần đến công lý để đảm bảo cho một xã hội công bằng. Mọi người đều được hưởng các quyền lợi căn bản và thực hiện các nghĩa vụ của mình để cùng xây dựng cuộc sống. Công lý được thể hiện qua việc pháp luật được thượng tôn. Pháp luật là công cụ mà nhà cầm quyền sử dụng để duy trì trật tự của quốc gia. Trong một quốc gia tôn trọng pháp luật, người dân sẽ được đảm bảo hưởng các quyền lợi và thực hiện các nghĩa vụ một cách đầy đủ. Cuộc sống con người sẽ được ổn định hơn khi mỗi người biết tôn trọng pháp luật, các quốc gia và dân tộc trên thế giới biết tôn trọng luật lệ chung và tôn trọng luật pháp quốc tế trong các vấn đề tranh chấp. Thế nhưng, chỉ với công lý thì chưa thể thỏa mãn được khao khát hòa bình của con người. Thật vậy, xã hội chỉ có công lý mà thiếu vắng tình thương là một xã hội chứa đầy sự lãnh cảm. Tình thương không phải là đối trọng của công lý nhưng đảm bảo cho công lý phát huy được bản chất thật sự của nó. Tình thương là biểu hiện của một xã hội hòa bình, tình thương giúp hóa giải hận thù, chia rẽ và xung đột. Có tình thương sẽ có sự tha thứ, điều vốn không được thể hiện trong một xã hội chỉ có công lý. Tha thứ chính là ngôn ngữ của tình thương. Sự tha thứ không thay đổi được quá khứ, nhưng có thể mở rộng tương lai (Paul Boese). Như vậy, công lý và tình thương chính là những viên gạch sống động xây dựng nền hòa bình đích thực cho con người hôm nay.

          Bên cạnh công lý và tình thương, hòa bình cũng được kiến tạo bởi sự thật. Hòa bình không có sự thật thì chỉ là hòa bình giả tạo. Đức Kitô đã đến để diệt trừ sự dối trá, là mầm mống làm cho con người băng hoại và gây mâu thuẫn trong các mối tương quan ở mọi lĩnh vực, chính Ngài đã khẳng định ‘’Sự thật sẽ giải thoát anh em’’ (Ga 8,32), sự thật sẽ giải phóng chúng ta khỏi không cùm của dối trá, vốn là thứ kìm kẹp chúng ta trong một cuộc sống giả tạo. Chỉ khi sống trong sự thật, con người mới trở nên là người hơn. Sự thật giúp con người hướng đến chân lý đích thực của cuộc sống. Khao khát sống trong sự thật là một khao khát chính đáng của con người. Tuy nhiên, giữa một xã hội mà sự giả tạo lên ngôi, nhiều người vẫn truyền tai nhau rằng ‘’thật thà thua thiệt’’ và rằng sống giả tạo mới là khôn ngoan. Những tư tưởng đó xem ra thật đáng báo động, nó làm cho cuộc sống con người tồn tại sự nhập nhằng thật thật, giả giả. Con người sẽ không còn phân biệt được đâu là sự thật và đâu là giả dối. Chỉ có sự thật mới đưa đến sự bình an cho con người và kiến tạo hòa bình cho xã hội. Nhưng sự thật còn phải được song hành cùng tình thương. Sự thật không có tình thương đôi khi gây ra những thương tổn đáng tiếc. Sự thật phải được nói một cách chân thành bằng trái tim mới mang lại hoa trái thực sự cho con người. Những hình thức về bức cung, nhục hình để mong tìm ra sự thật là những hành vi đi ngược lại với tình thương, không đảm bảo sự tôn trọng nhân phẩm của các nhân vị.

          ‘’Hỡi người Kitô hữu, hãy ý thức phẩm giá của mình’’, lời của thánh Lêô Cả như muốn kêu gọi tất cả mọi người cùng biết ý thức về phẩm giá của mình, đồng thời cũng kêu gọi chúng ta tôn trọng phẩm giá của người khác. Quả vậy, hòa bình đích thực cũng cần phải có sự tôn trọng phẩm giá của con người. Con người là hình ảnh của Thiên Chúa, được chính Ngài ban cho phẩm giá cao quý mà không thụ tạo nào được hưởng. Chính vì thế, việc tôn trọng phẩm giá của con người chính là tôn trọng trật tự sáng tạo của Thiên Chúa. Đáng tiếc rằng, trong xã hội ngày nay, nhân phẩm con người đang bị xem nhẹ một cách đáng báo động. Những hình thức bạo hành, ngược đãi về tinh thần và thể xác vẫn luôn là vấn đề nan giải của xã hội con người. Rất nhiều người đã và đang làm giàu trên chính nhân phẩm của đồng loại ngang qua việc sản xuất và lưu truyền những văn hóa phẩm đồi trụy, bạo lực,… . Chỉ khi nhân phẩm con người được tôn trọng, con người mới thật sự có một nền hòa bình đích thực.

Việc tôn trọng phẩm giá con người cũng chính là tôn trọng quyền tự do. Bản tuyên ngôn quốc tế Nhân quyền năm 1948 đã khẳng định ‘’Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về phẩm giá và quyền lợi’’. Thật vậy, con người được Thiên Chúa dựng nên có ý chí tự do. Chính Ngài là Đấng dựng nên con người, là chủ của con người, đã ban cho họ tự do vậy chẳng có lý do gì con người lại bị tước đoạt điều đó. Một đất nước đảm bảo tự do cho con người là một đất nước phát triển thịnh vượng. Lịch sử nhân loại đã minh chứng cho điều đó một cách rõ ràng. Chỉ khi được đảm bảo tự do, con người mới có thể phát triển một cách toàn diện hơn, mỗi công dân trong một đất nước mới có thể phát huy những năng lực vốn có của mình để xây dựng đất nước. Việc đảm bảo tự do cho con người là một nhiệm vụ tối cần thiết của các nhà cầm quyền. Tuy nhiên, nhiều người vẫn luôn lầm tưởng tự do là được làm những gì mình muốn. Tự do không đơn thuần chỉ có vậy nhưng hơn hết tự do đích thực là khả năng tự quyết định, hướng cuộc đời mình về nguồn hạnh phúc đích thực là Thiên Chúa.

Như vậy, hòa bình chỉ thực sự được thể hiện khi được đặt trên sự thật, được xây dựng trên công lý, được linh hoạt bởi tình yêu và được hoàn thiện trong tự do (x. Pacem in Terris). Cùng với đó là sự tôn trọng nhân phẩm của con người, là điều kiện tối cần thiết để kiến tạo hòa bình đích thực trong một khuôn mẫu duy nhất là Đức Kitô.

Với tư cách là Hiền Thê của Hoàng Tử Hòa Bình, Giáo Hội cũng đã và đang tìm mọi phương thế để góp phần xây dựng hòa bình. Qua các Giáo huấn, Giáo Hội luôn mạnh mẽ lên án chiến tranh và kêu mời mọi Kitô hữu kiến tạo hòa bình bằng nhiều phương thế. Thế giới đã phải đối diện với nhiều cuộc chiến tranh xảy ra hơn nếu không có sự can thiệp của Giáo hội mà đại diện là các Đức giáo hoàng. Các Ngài đã hòa giải thành công nhiều cuộc xung đột và chiến tranh. Thánh giáo hoàng Gioan XXIII lên ngôi trong thời kì chiến tranh lạnh đã tha thiết kêu gọi hai cường quốc Hoa Kỳ - Liên Xô trước nguy cơ khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962. Ngài đã âu sầu đọc lên thông điệp kêu gọi hòa bình cho toàn thế giới vào tháng 11 năm 1962. Sau đó một thời gian, thông điệp Pacem In Terris (1963) đã được gửi đến những người thành tâm thiện chí xây dựng hòa bình. Tiếp nối vị tiền nhiệm, Đức Phaolo VI cũng luôn tha thiết mời gọi nhân loại kiến tạo hòa bình qua việc đối thoại. Ngài đã thiết lập ngày thế giới hòa bình vào năm 1968 để mời gọi mọi người cầu nguyện cho hòa. Kể từ đó, những sứ điệp hòa bình đã được gửi đến cho tất cả mọi người để như một lời nhắc nhớ về sự tối cần thiết của hòa bình cho nhân loại. Tiếp theo các ngài là Đức Gioan Phaolo II, người đã để lại hình ảnh đẹp cho thế giới về sự tha thứ cho kẻ ám mình. Cũng như Đức Benedictô XVI hay hiện tại là Đức Phanxicô, các ngài luôn là những sứ giả hòa bình của con người thời đại hôm nay.

Noi gương Đức Maria – Nữ Vương Hòa Bình, chúng ta học nơi Mẹ những đức tính cần thiết để xây đắp hòa bình. Cuộc đời của Mẹ đã chứng kiến những bất công, những hận thù, những xung đột mà đỉnh điểm là cuộc khổ nạn và chịu chết trên thập giá của Đức Giêsu, con Mẹ. Mẹ đã không một lời oán thán nhưng một lòng phó thác cho Thiên Chúa tất cả mọi sự. Mẹ cũng đã nhiều lần hiện ra để nhắc nhớ con cái của Mẹ ăn năn sám hối và làm việc đền tội để kiến tạo hòa bình cho thế giới ngày nay. Chính Mẹ là mẫu gương sáng ngời cho việc xây dựng hòa bình đích thực.

Người Kitô hữu là những người bước theo Đức Kitô, chúng ta được mời gọi góp phần xây dựng hòa bình đích thực bằng cuộc sống hằng ngày. Để có một nền hòa bình đích thực, chúng ta cần có một đời sống thiết thân với Chúa. Qua việc cầu nguyện, chúng ta học biết đối thoại để từ đó chúng ta có thể đối thoại được với anh chị em. Chúng ta cũng học xây dựng hòa bình đích thức ngay trong tâm hồn của mình, chỉ khi tâm hồn bình an chúng ta mới có thể lan tỏa hòa bình đến cho anh chị em của mình. Bằng thái độ sống yêu thương, tha thứ và chân thành, người Kitô hữu góp phần kiến tạo hòa bình đích thức cho xã hội.

          Giữa một xã hội đang có nhiều biến động, chúng ta cần tìm về nguồn bình an viên mãn là Thiên Chúa. Chúng ta cũng được mời gọi noi theo Đức Kitô là mô mẫu của hòa bình đích thực cho con người trong mọi thời đại. Hòa bình đích thực chính là khi công lý, tình thương, sự thật và tự do được tôn trọng và kiến tạo. Cùng với đó là sự tôn trọng phẩm giá và quyền của con người trong xã hội. Giáo Hội với tư cách là Hiền Thê của Đức Kitô cũng luôn nỗ lực xây dựng và mời gọi nhân loại xây dựng hóa bình qua các Giáo Huấn xuyên suốt và qua những hành động thiết thực trên phạm vi toàn cầu. Mỗi người Kitô hữu cần ý thức về những tội lỗi mình gây ra, chiến tranh và hận thù vẫn luôn là vấn đề thường trực. Nhưng tin tưởng rằng, với đức mến, chúng ta có thể vượt thắng được tội lỗi, bạo lực sẽ được loại trừ cho đến khi lời sau đây được hoàn thành: ‘’họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày, rèn giáo mác nên liềm nên hái. Dân này nước nọ sẽ không còn vung kiếm đánh nhau và thiên hạ thôi học nghề chinh chiến’’ (Is 2,4).